Tóm tắt tình hình KT-XH năm 2016 và kế hoạch phát triển KT-XH năm 2017

(Baonghean) – Đồng chí Nguyễn Xuân Đường – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày tại kỳ họp thứ 3, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII.

Đồng chí Nguyễn Xuân Đường đọc báo cáo tình hình KT- XH năm 2016, nhiệm vụ giải pháp 2017
Đồng chí Nguyễn Xuân Đường đọc báo cáo tình hình KT- XH năm 2016, nhiệm vụ giải pháp 2017

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2016

Đặc điểm tình hình: Năm 2016 là năm đầu tiên tỉnh Nghệ An thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020, tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị với khí thế, quyết tâm phấn đấu, thi đua sôi nổi… Mặc dù, tình hình kinh tế – xã hội gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường; sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, hoạt động của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn; hiện tượng cá chết hàng loạt tại vùng biển miền Trung, tình hình dịch bệnh sâu hại trong nông nghiệp… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân và doanh nghiệp nhưng cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, sự quan tâm lãnh đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đã có nhiều chỉ đạo, định hướng quan trọng nên kinh tế – xã hội năm 2016 của tỉnh nhà đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về phát triển kinh tế

a) Đã hoàn thành 25/27 chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2016 ước đạt 7,5%, tuy không đạt kế hoạch đề ra nhưng tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng của những năm gần đây (năm 2014 tăng 7,13%, năm 2015 tăng 7,31%) và cao hơn mức tăng trưởng bình quân của cả nước (ước 6,3-6,5%); trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp ước tăng 3,53%; công nghiệp – xây dựng ước tăng 11,58% (riêng công nghiệp tăng 11,44%); dịch vụ ước tăng 6,71% so với cùng kỳ.

GRDP bình quân đầu người theo phương pháp tính mới năm 2016 ước đạt 28,54 triệu đồng (quy đổi tương đối theo phương pháp tính cũ năm 2016 đạt khoảng 31,65 triệu đồng). Điều đó cho thấy, kinh tế Nghệ An đang dần được phục hồi và có nhiều chuyển biến tích cực đã tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và doanh nghiệp.

b) Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tuy gặp điều kiện không thuận lợi nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Tích cực chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng giảm dần diện tích lúa lai, tăng diện tích sản xuất lúa chất lượng, có giá trị cao, dễ tiêu thụ. Tổng sản lượng lương thực cả năm ước đạt 1,25 triệu tấn, tăng 3,5% cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 221,5 ngàn tấn, tăng 11,8%. Diện tích trồng rừng tập trung ước đạt 19.530 ha, tăng 0,11%. Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản ước đạt 163,34 ngàn tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ.

Xây dựng nông thôn mới: Nghệ An là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về số lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới với 145 xã có quyết định đạt chuẩn (trong đó có 02 xã khó khăn thuộc huyện 30a đạt chuẩn NTM là xã Thạch Giám và xã Tam Thái, huyện Tương Dương), chiếm 31,3%, cao hơn bình quân cả nước (23%); có 01 đơn vị cấp huyện hoàn thành xây dựng NTM (thị xã Thái Hòa). Dự kiến năm 2016 có từ 30-34 xã/KH 34 xã có quyết định đạt chuẩn nông thôn mới và thành phố Vinh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng 12/2016). Đạt được kết quả đó là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các địa phương, đơn vị để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2016. Nhờ đó, bộ mặt nông thôn Nghệ An đã có chuyển biến rõ nét, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.

c) Sản xuất công nghiệp – xây dựng đang trên đà phục hồi, có nhiều tín hiệu tốt tạo năng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh như: Một số cơ sở sản xuất đã đi vào hoạt động (Nhà máy Hoa Sen Nghệ An, Nhà máy Sơn Hà Nghệ An, Nhà máy thức ăn gia súc Cargill, Nhà máy may Vinatex Hoàng Mai, Nhà máy chế biến gỗ MDF…); Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tính chung 11 tháng ước tăng 9,55% so cùng kỳ. Năm 2016, một số sản phẩm công nghiệp tăng khá như: xi măng tăng 14,2%, gạch granit tăng 24%, điện thương phẩm tăng 21,13%, ống nhựa tăng 12,91%, thép hợp kim tăng 132%…

Huy động nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh so với các năm trước; ước thực hiện năm 2016 đạt khoảng 51,5 ngàn tỷ đồng, tăng 2,49% so với năm 2016. Đã khánh thành và đưa vào sử dụng một số dự án quan trọng như: cầu Yên Xuân, khách sạn Mường Thanh – Hoàng Mai, Mường Thanh – Con Cuông, Nhà máy may Vinatex Hoàng Mai, thông xe đường Quốc lộ 1A – Nghĩa Đàn – Thái Hòa,… Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm như: tuyến đường D4, N5, đường nối N5 – Đô Lương, phát triển hạ tầng đô thị Vinh (WB), thủy lợi Bắc (JICA), VSIP Nghệ An, Nhà máy Xi măng Sông Lam, Tổ hợp khách sạn, khu vui chơi giải trí, biệt thự nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Hội… Khởi động công trình cầu Cửa Hội bắc qua sông Lam, tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

d) Lĩnh vực thương mại, thông tin truyền thông, vận tải, tài chính ngân hàng phát triển ổn định, tăng so với năm 2015: Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 35.617,89 tỷ đồng, tăng 9,99% so với năm 2015. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả năm ước đạt 567 triệu USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 485 triệu USD, tăng 28,9%.

Hoạt động tài chính ngân hàng tiếp tục hỗ trợ tốt cho doanh nghiệp phát triển. Nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đạt 91.804 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2015 (+14.659 tỷ đồng); tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 147.069 tỷ đồng, tăng 16,5% so với năm 2015 (+20.829 tỷ đồng), trong đó dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm khoảng 64,5% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu chiếm khoảng 0,8% tổng dư nợ (thấp hơn mức bình quân cả nước).

Một góc đô thị Vinh
Một góc đô thị Vinh.

đ) Tích cực đôn đốc, hỗ trợ thực hiện các thủ tục để đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư trọng điểm. Làm việc với các đối tác, nhất là các đối tác có trọng điểm, có chiều sâu như Tập đoàn Hemaraj (Thái Lan), Vingroup, các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản… Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Lũy kế đến 15/11/2016, đã cấp mới và điều chỉnh (gồm chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đầu tư) cho 120 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký 30.955,4 tỷ đồng. Năm 2016, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo quyết liệt công tác kiểm tra các dự án chậm tiến độ hoặc không triển khai; đã kiểm tra được 85 dự án (trong đó đoàn liên ngành kiểm tra 71 dự án, Sở Xây dựng chủ trì kiểm tra chuyên ngành 14 dự án bất động sản); đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành trực tiếp kiểm tra 23 dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Vinh; quyết định thu hồi 13 dự án và chỉ đạo các sở, ngành rà soát để thu hồi tiếp 10 dự án, xem xét cho gia hạn có điều kiện đối với các dự án còn lại. Năm 2016 có 06 dự án ODA mới được phê duyệt với tổng vốn đầu tư 657,21 tỷ đồng.

Đến 30/11/2016, đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 1.773 doanh nghiệp, tăng 15% so với cùng kỳ, vốn điều lệ đăng ký bình quân khoảng 3,7 tỷ đồng/doanh nghiệp. Ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Tổ chức được nhiều cuộc đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư.

e) Về công tác thu chi ngân sách: Năm 2016, tuy tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thấp hơn dự kiến đã ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do giá xăng dầu giảm, một số dự án chậm tiến độ nhưng do có sự lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự nỗ lực của ngành Thuế nên tổng thu ngân sách nhà nước năm 2016 ước đạt 10.310 tỷ đồng, bằng 100,3% dự toán, tăng 18,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa 9.283 tỷ đồng, bằng 103,2% dự toán và tăng 20,6% so với cùng kỳ; Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu: 1.010 tỷ đồng, bằng 79,5% dự toán, tăng 0,3% so với cùng kỳ; Thu từ xổ số kiến thiết: 17 tỷ đồng, bằng 100% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách nhà nước ước thực hiện 22.637 tỷ đồng, bằng 113,5% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 5.950 tỷ đồng, đạt 106,9% dự toán, chi thường xuyên 16.397,85 tỷ đồng, đạt 116,4% dự toán, chi từ nguồn dự phòng 289,15 tỷ đồng, đạt 100% dự toán.

2. Lĩnh vực văn hóa – xã hội 

a) Lĩnh vực giáo dục – đào tạo: Chất lượng giáo dục có chuyển biến tiến bộ vững chắc và toàn diện hơn. Năm 2016, Nghệ An có 106 học sinh giỏi Quốc gia, xếp thứ 3 toàn quốc; có 233 em có điểm thi đại học cao. Ngành Giáo dục đào tạo đã tích cực trong việc phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông (trong đó có 41% học sinh không đi đại học mà đăng ký học nghề sau khi tốt nghiệp THPT). Ước tính năm 2016, tổng số trường chuẩn Quốc gia đạt 972 trường, đạt tỷ lệ 64,25%. Tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ IX tạo được nhiều dấu ấn đáng ghi nhận.

Ảnh: Sỹ Minh
Ảnh: Sỹ Minh

b) Lĩnh vực y tế: Ngành Y tế đã chủ động giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh, dịch bệnh nguy hiểm trên địa bàn toàn tỉnh; tiếp tục duy trì, phát triển các kỹ thuật mới trong khám và điều trị; đảm bảo công tác khám, cấp cứu và điều trị bệnh nhân ở các tuyến; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực gắn với phát triển chuyên môn kỹ thuật y tế, vừa mang tính phổ cập vừa mang tính chuyên sâu, chú ý đào tạo các bác sỹ, kỹ thuật viên vận hành, sử dụng thành thạo các thiết bị y tế hiện đại. Đẩy mạnh triển khai công tác thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 81,6% dân số.

c) Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, các đề tài, dự án được tăng cường ứng dụng vào sản xuất và đời sống. Tổ chức kiểm tra về tiêu chuẩn đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa nhằm hạn chế tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận về đo lường góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

d) Lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch: Đã chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng các dịp lễ lớn và sự kiện chính trị quan trọng, đặc biệt là tuyên truyền hoạt động Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021;…Triển khai có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Tổ chức thành công Hội thảo khoa học Liên kết phát triển du lịch khu vực Bắc – Nam – Trung bộ gắn với triển khai các nội dung biên bản hợp tác; Doanh thu các dịch vụ du lịch, ăn uống, du lịch lữ hành ước cả năm 2016 đạt 5.387,93 tỷ đồng, bằng 96,26% cùng kỳ.

đ) Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và các vấn đề an sinh xã hội được quan tâm chỉ đạo.

Giải quyết việc làm mới cả năm 2016 ước 37.860 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 12.625 người. Chất lượng đào tạo nghề được nâng cao, Nghệ An đã đạt được: 02 giải Nhất, 01 giải Nhì và 02 giải Ba tại Hội nghị thiết bị đào tạo tự làm toàn quốc năm 2016. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 55% năm 2015 lên 57% năm 2016; trong đó, qua đào tạo nghề từ 48% lên 50,2%. Kết quả tuyển sinh, đào tạo nghề theo các cấp trình độ là 76.128 người, đạt trên 100 % so với kế hoạch, bao gồm: cao đẳng 4.627 người, trung cấp 7.785 người, sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng: 63.716 người. Trong đó, đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng gắn với giải quyết việc làm đã cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xuất khẩu lao động, các khu công nghiệp, tập đoàn kinh tế trong và ngoài tỉnh.

Triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đồng bộ các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, các chế độ hỗ trợ đối với hộ nghèo; công tác giúp đỡ các xã nghèo được quan tâm. Tỷ lệ hộ nghèo ước đến cuối năm 2016 còn 9,5% (giảm 2,6% so với cuối năm 2015). An sinh xã hội trên địa bàn được đảm bảo. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục được xã hội hóa sâu rộng. Thực hiện tốt các chương trình, chính sách cho vùng miền núi dân tộc. Thực hiện quản lý, chi trả đầy đủ, kịp thời chế độ trợ cấp thường xuyên cho 77.427 đối tượng người có công với cách mạng, với số tiền chi trả trên 116,81 tỷ đồng/tháng. Rà soát, chỉ đạo thực hiện kịp thời Quyết định số 24/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chi trả tiền Bằng khen cho đối tượng người có công trên địa bàn tỉnh (Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã trình UBND tỉnh 32.387 người, kinh phí là 39,35 tỷ đồng). Thực hiện quản lý, chi trả kịp thời, đầy đủ trợ cấp thường xuyên cho 132.685 đối tượng tại cộng đồng; 350 đối tượng tập trung tại 06 cơ ở Bảo trợ xã hội. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em được quan tâm…

e) Lĩnh vực bảo hiểm xã hội: Tổng số thu toàn tỉnh ước tính đến hết năm 2016 là 4.535,83 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán của BHXH Việt Nam giao; Tổng số nợ toàn tỉnh ước tính đến 31/12/2016: 117,93 tỷ đồng, chiếm 2,6% số phải thu theo kế hoạch.

3. Công tác quản lý nhà nước, cải cách hành chính 

– Tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.

– Tích cực chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Đại hội XII của Đảng. Tổ chức thành công Hội thảo phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị gắn với đánh giá kết quả 3 năm thực hiện.

– Công tác cải cách hành chính đang được tập trung chỉ đạo quyết liệt: Năm 2015, trừ chỉ số PCI có dấu hiệu chững lại (xếp thứ 32 giảm 4 bậc so với năm 2014) còn lại các chỉ số khác đều tăng khá, trong đó chỉ số PAPI (chỉ số hiệu quả và hành chính công cấp tỉnh) xếp thứ 15/63 tỉnh thành, tăng 12 bậc so với năm 2014. Trong đó chỉ số tham gia của người dân ở cấp cơ sở đạt 5,3 điểm, xếp thứ 11 thuộc nhóm tỉnh cao nhất, chỉ số công khai minh bạch đạt 5,9 điểm, xếp thứ 12, trách nhiệm giải trình với người dân đạt 6 điểm, xếp thứ 10. Chỉ số cải cách hành chính năm 2015 (Par Index năm 2015) xếp thứ 21 (tăng 23 bậc so với năm 2014).

– Đã hoàn thành việc xây dựng Đề án Trung tâm xúc tiến và hỗ trợ đầu tư thuộc UBND tỉnh trình cấp có thẩm quyền thông qua để có thể đi vào hoạt động đầu năm 2017.

– Tăng cường chỉ đạo thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan nhà nước theo yêu cầu Chỉ thị số 17-CT/TU của Tỉnh ủy và Chỉ thị số 26/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

4. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. 

– Chủ động nắm tình hình, tham mưu phối hợp giải quyết có hiệu quả các vấn đề nổi lên liên quan an ninh quốc gia, nhất là đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng hiện tượng cá chết tại vùng biển một số tỉnh miền Trung để kích động tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, phá hoại bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Các mặt công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa – tư tưởng tiếp tục được tăng cường; an ninh tôn giáo, biên giới, miền núi, dân tộc, an ninh nông thôn, đô thị bảo đảm vững chắc, không có bị động, bất ngờ và “điểm nóng” xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh.

– Năm 2016, công tác phòng chống tham nhũng cơ bản được kiểm soát, không có các vụ việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng xảy ra; Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý sau thanh tra đã được quan tâm thực hiện; tỷ lệ vụ việc khiếu nại, tố cáo đã giải quyết đạt 96,2%.

II. KHÓ KHĂN, TỒN TẠI

– Có 02 chỉ tiêu chủ yếu dự kiến khó đạt kế hoạch đề ra: Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2016 dự báo ước đạt 7,5%, thấp hơn so với kế hoạch đề ra (8-9%); Tốc độ tăng giá trị sản xuất dịch vụ ước chỉ đạt 6,87% so với kế hoạch đề ra 8-9%.

– Thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân. Diện tích một số cây trồng chưa đạt kế hoạch đề ra (như lạc 15.741ha/KH 17.000 ha, mía 24.020ha/KH 29.000 ha, cao su 11.511ha/KH 13.000 ha,…).

– Hiện tượng cá chết ven biển miền Trung khiến cho việc tiêu thụ hải sản khó khăn, giá bán thấp, dịch vụ du lịch biển giảm so với cùng kỳ.

– Một số công trình trọng điểm được tỉnh tập trung chỉ đạo quyết liệt nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và tiến độ còn chậm như dự án phát triển đô thị Vinh; Bến cảng số 5, số 6 Cảng Cửa Lò; Dự án bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu… (đã thu hồi 12 dự án chậm tiến độ).

– Khai thác khoáng sản trái phép vẫn diễn ra ở nhiều địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, nhất là môi trường khu công nghiệp, làng nghề, môi trường nông thôn…

– Tiến độ tổ chức, sắp xếp lại các nông, lâm trường và các tổng đội Thanh niên Xung phong còn chậm, trong khi người dân miền núi thiếu đất sản xuất.

– Việc chuẩn bị cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên phục vụ nhu cầu học tập của các học sinh mầm non ở các địa phương thiếu chủ động nên gặp không ít khó khăn; đội ngũ giáo viên tiểu học, THCS vẫn tiếp tục dôi dư. Tình trạng lạm thu trong trường học còn diễn ra tại một số địa phương gây dư luận không tốt trong xã hội.

– Tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn diễn ra phức tạp, khó kiểm soát. Tình trạng lạm dụng quỹ BHYT từ các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT, từ người có thẻ BHYT đã gây khó khăn trong công tác cân đối quỹ khám, chữa bệnh BHYT. Tình trạng tai nạn thương tích trẻ em, đặc biệt là đuối nước vẫn còn xảy ra trong dịp hè; còn để xảy ra sai phạm trong việc thực hiện chế độ chính sách cho các đối tượng chính sách (thương binh giả). Kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn…

– Cải cách hành chính chuyển biến chậm; việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính của một số đơn vị, một số cán bộ, công chức, viên chức chưa nghiêm túc làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, lòng tin của người dân và doanh nghiệp.

– Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp: Tình trạng di dịch cư trái phép qua biên giới vẫn diễn ra; hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo tiềm ẩn nhiều phức tạp; khiếu kiện đông người vẫn còn vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm. Một số loại tội phạm, vi phạm pháp luật về trật tự xã hội còn xảy ra nhiều, như: trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vi phạm pháp luật về an toàn giao thông… Tai nạn giao thông tuy giảm trên cả 3 tiêu chí nhưng chưa bền vững, còn xảy ra nhiều.

***

Đánh giá chung, trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, công tác lãnh đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra theo Nghị quyết của Chính phủ, của tỉnh, dự kiến đạt và vượt 25/27 chỉ tiêu kế hoạch năm 2016. Kinh tế có mức tăng trưởng khá; nông nghiệp giữ được ổn định và đạt mức tăng trưởng; công nghiệp có sự phục hồi trở lại; an sinh xã hội được đảm bảo trong điều kiện kinh tế khó khăn; công tác đối ngoại, thu hút đầu tư đạt những kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Tuy nhiên, còn 2 chỉ tiêu dự kiến khó đạt kế hoạch, khó khăn của nền kinh tế vẫn còn lớn, hạn chế, yếu kém còn nhiều và cần tiếp tục khắc phục có hiệu quả để thời gian còn lại của năm 2016 và tích cực chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2017 đạt kết quả tốt hơn, tạo đà cho việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020.

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2017

Năm 2017 là năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; tiếp tục tập trung thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Những nỗ lực của Chính phủ trong việc thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp sẽ tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng. Các dự án trọng điểm của tỉnh đã, đang và sẽ triển khai trong thời gian tới, dự kiến sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu ngân sách nhà nước…

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Năm 2017, Nghệ An đặt mục tiêu thu ngân sách đạt 11.590 tỷ; kim ngạch xuất khẩu đạt 855 triệu USD.
Năm 2017, Nghệ An đặt mục tiêu thu ngân sách đạt 11.590 tỷ; kim ngạch xuất khẩu đạt 855 triệu USD.

Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, mở rộng đối ngoại, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho phát triển, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đảm bảo an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và tập trung phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

II. CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Chỉ tiêu kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8 – 9%; Tốc độ tăng trưởng GTSX nông lâm ngư nghiệp đạt 4 – 4,5%; Tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp – xây dựng đạt 13 – 14% (trong đó tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp đạt 15 – 16%); Tốc độ tăng trưởng GTSX các ngành dịch vụ đạt 8 – 9%; Cơ cấu kinh tế: tỷ trọng nông, lâm, ngư chiếm khoảng 25-26%; công nghiệp – xây dựng khoảng 33-34%; dịch vụ khoảng 41-42%; Thu ngân sách đạt 11.590 tỷ đồng (tăng 1003 tỷ đồng so với Trung ương giao, tăng 1309 tỷ đồng so với dự toán năm 2016 và tăng 1280 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2016); Kim ngạch xuất khẩu đạt 855 triệu USD; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 56-58 ngàn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 31-32 triệu đồng; Số xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm tối thiểu 20 xã.

2. Chỉ tiêu xã hội: Mức giảm tỷ lệ sinh 0,3‰-0,4‰; Tỷ lệ hộ nghèo 7,3%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 17%; Số trường đạt chuẩn quốc gia trong năm là 45 trường; Tạo việc làm mới cho 37-38 ngàn người; Tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 59%; Tỷ lệ xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 75%; Số bác sỹ/vạn dân đạt 7,7 bác sỹ; Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt 90%; Số giường bệnh/vạn dân đạt 27,5 giường/vạn dân; Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 83,5%; Tỷ lệ xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hóa thể thao đạt chuẩn là 40%; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 83,8%.

3. Chỉ tiêu môi trường: Tỷ lệ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 79%; Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch: đối với đô thị loại 4 trở lên đạt 86%, đối với đô thị loại 5 đạt 75%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 57,3%; Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom, xử lý đạt 92%.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Thực hiện cơ cấu lại kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII). Đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 và năm 2017; tập trung thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhất là tiếp thu các kết quả thu được từ Hội thảo “Phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị”, hàng năm sẽ tiếp tục tiến hành hội thảo về chuyển dịch cơ cấu phát triển tỉnh Nghệ An trong điều kiện, yêu cầu mới.

2. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nhất là các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP của Chính phủ. Triển khai có hiệu quả chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp.

3. Tập trung chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện cơ cấu lại trong nông nghiệp; mở rộng diện tích áp dụng công nghệ cao. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị.

4. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, xây dựng. Tập trung đôn đốc, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm; đồng thời rà soát các dự án chậm tiến độ, chậm triển khai để thực hiện thu hồi. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công; tăng cường quản lý đầu tư công đảm bảo theo Luật Đầu tư công. Tập trung quản lý tốt về du lịch.

5. Chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tập trung cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

6. Chăm lo các lĩnh vực văn hóa – xã hội, đảm bảo thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng giáo dục. Tập trung công tác y tế dự phòng, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Tăng cường công tác giải quyết việc làm, phát triển thị trường lao động. Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững.

7. Quản lý tốt khu vực khoáng sản chưa được cấp phép và công tác quản lý sau cấp phép. Tăng cường giám sát, xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; quản lý hoạt động khoáng sản gắn với công tác thu ngân sách, bảo vệ môi trường.

8. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).

9. Tăng cường công tác quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh. Chủ động nắm chắc tình hình, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là các địa bàn có các dự án thu hút đầu tư. Kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập; giải quyết có hiệu quả các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo; đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm; kìm giữ và làm giảm tai nạn giao thông trên cả 03 tiêu chí. Nâng cao trách nhiệm trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo. Tập trung xử lý các vấn đề bức xúc nổi cộm mà báo chí nêu; tăng cường công tác đối thoại với nhân dân.

10. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2017, tạo đà cho việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2015 – 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị.

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thẩm Mỹ Sen
chăm sóc da mặt