HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – 55 NĂM CHIẾN ĐẤU, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

I, ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – 55 NĂM XÂY DỰNG. CHIẾN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH

  1. Huyện Đô Lương ra đời. Đảng bộ và nhân dân Đô Lương thực hiện công cuộc cách mạng XHCN và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà.

 Ngày 19/4/1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 52/QĐ-CP phê chuẩn việc chia tách huyện Anh Sơn cũ thành 2 huyện là Đô Lương và Anh Sơn. Sau 10 ngày có quyết định chia tách huyện, Đảng bộ Đô Lương đã tổ chức Đại hội lần thứ I, đề ra phương hướng để lãnh đạo nhân dân nhanh chóng ổn định tình hình mọi mặt, sớm kiện toàn các tổ chức từ huyện đến cơ sở, chăm lo phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện và Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất, toàn huyện đã tích cực thi đua phát triển kinh tế- xã hội, củng cố QPAN, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhờ sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân nên mặc dù mới tách huyện, còn gặp nhiều khó khăn nhưng trong 2 năm 1963, 1964, Đô Lương đã giành được nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực.  Ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ đã dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, dùng lực lượng không quân, hải quân đánh phá một số nơi ở miền Bắc, mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam.

Đô Lương là một địa bàn chiến lược quan trọng nằm trên quốc lộ 7, 46 và đường chiến lược 15A, lại có nhiều kho tàng nhà nước, doanh trại quân đội, xưởng quân khí, khu sơ tán của các cơ quan Tỉnh, Trung ương, các công trình giao thông, kinh tế quan trọng như đập nước Bara, Bến Phà, Vòm Cóc… nên đế quốc Mỹ đã tập trung đánh phá hết sức ác liệt. Trong các năm từ 1965 đến 1968, không quân Mỹ đã nhiều lần ném bom xuống Đồi Sy ở xã Thuận Sơn, kho Chợ Sỏi, Bến Phà ở xã Lưu Sơn, cầu Om ở xã Minh Sơn, đê Phượng Kỷ và trận địa tên lửa ở xã Đà Sơn; đập Ba ra ở xã Tràng Sơn và các xã Hòa Sơn, Thịnh Sơn, Nam Sơn, Đặng Sơn, Lạc Sơn, Thị trấn… và đặc biệt là Truông Bồn ở xã Mỹ Sơn. Chỉ tính riêng hai năm 1967-1968, địch đã ném xuống Đô Lương 3.643 quả bom, bắn 165 tên lửa, 2.647 quả rốc-két và rất nhiều bom bi, bom từ trường. Bom đạn đã làm cho hàng trăm người chết, bị thương, hơn 500 ngôi nhà dân bị phá hủy, nhiều công trình công cộng bị tàn phá hư hỏng.

Trong khói lửa đạn bom, Đảng bộ và nhân dân Đô Lương luôn phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vừa kiên cường đánh trả hành động ném bom của đế quốc Mỹ, vừa làm tốt nhiệm vụ sản xuất, cung cấp sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quân và nhân dân ta đã đánh bại các đợt tấn công của địch, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom Mỹ gây ra. Đã nổi lên nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển hình trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu như dân quân và nhân dân các xã Lưu Sơn, Tràng Sơn, Đặng Sơn, Đông Sơn, Mỹ Sơn, Nhân Sơn, Thuận Sơn, Đà Sơn, Liên Sơn, Yên Sơn, Văn Sơn, Thị trấn Đô Lương,. v..v… Các lực lượng dân quân đã phối hợp với bộ đội phòng không kiên cường đánh trả máy bay địch, vận chuyển bảo vệ hàng ngàn tấn lương thực, san lấp hố bom giữ thông đường cho xe ta ra tiền tuyến. Tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu quả cảm để bảo đảm mạch máu giao thông là tấm gương sáng ngời của các chiến sỹ TNXP ở Truông Bồn. Sự hy sinh của 13 nam nữ TNXP tuổi đời mười tám, đôi mươi trong ngày 31/10/1968 đã góp phần làm nên huyền thoại Truông Bồn.

Thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam và trong chiến tranh leo thang phá hoại, ngày 01/11/1968, đế quốc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Nhân dân Đô Lương cùng với nhân dân toàn miền Băc bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, làm nghĩa vụ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Biến đau thương thành hành động cách mạng, toàn thể Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã dấy lên một phong trào thi đua làm theo Di chúc của Bác. Trong khí thế chung của huyện nhà, nhiều điển hình tiên tiến đã xuất hiện. Tiêu biểu như HTX Trường Xuân (Đặng Sơn) là đơn vị đầu tiên đạt 3 mục tiêu “5 tấn thóc, 2 con lợn, một lao động phụ trách 1ha gieo trồng”; HTX Yên Thế (Thịnh Sơn) là lá cờ đầu trong công tác trồng cây phủ xanh đồi trọc; HTX Tín dụng Lạc Sơn; HTX Mua bán Lưu Sơn có nhiều thành tích trong việc phục vụ nhân dân.

Thực hiện ý đồ dùng sức mạnh quân sự để gây sức ép với ta trên bàn hội nghị Pari, từ ngày 6/4/1972 đế quốc Mỹ đã chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại  miền Bắc lần thứ 2. Một lần nữa, những trận bom kinh hoàng lại trút xuống mảnh đất Đô Lương. Các trọng điểm như Bara (Tràng Sơn),, cống Mụ Bà (Đông Sơn), Vòm Cóc (Nam Sơn), các xã Đà Sơn, Giang Sơn, Lưu Sơn, Bồi Sơn… lại tiếp tục bị đánh phá hết sức ác liệt. Đặc biệt là ở xã Đà Sơn, Giang Sơn, đế quốc Mỹ đã thực hiện những trận oanh kích bằng B52 được coi là một trong những phi vụ ném bom ác liệt nhất ở miền Bắc. Và một lần nữa phẩm chất dũng cảm ngoan cường của nhân dân Đô Lương được phát huy cao độ. Các lực lượng dân quân tự vệ và nhân dân đã cùng với các đơn vị pháo cao xạ, bộ đội tên lửa đánh trả, đánh lui nhiều đợt, tấn công của máy bay Mỹ, bắn rơi, bắn cháy nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái của địch. Công tác ứng cứu, cứu thương, khắc phục hậu quả ném bom được tổ chức tốt. Những hành động anh hùng đó đã góp phần cùng nhân dân toàn miền Bắc đánh bại âm mưu “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, buộc đế quốc Mỹ phải ngừng hoàn toàn các hoạt động chống phá từ 15/1/1973.

Hiệp định Pa ri được ký kết (27/1/1973), đế quốc Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam nhưng vẫn nuôi âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tất cả vì miền Nam ruột thịt, hàng năm trên 1.000 con em Đô Lương gia nhập bộ đội, TNXP và dân công, chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các chiến trường. Đô Lương cũng đã cung cấp cho tiền tuyến hàng vạn tấn lương thực, hàng ngàn tấn thực phẩm để góp phần cùng bộ đội đánh thắng kẻ thù.

Tổng kết công tác chi viện sức người, sức của cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, Đô Lương đã có trên 10.000 gia đình có người đi chiến đấu. Trong đó 1.233 gia đình có 2 người, 249 gia đình có 3 người, 7 gia đình có từ 5-7 người nhập ngũ. Có 3 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là đồng chí Trần Hữu Bào (Hiến Sơn), đồng chí Hoàng Hữu Thanh (Bồi Sơn), đồng chí Biện Văn Thanh (Minh Sơn). Toàn huyện có 2.773 liệt sỹ, 2.031 thương binh, 1.101 bệnh binh các loại. Hàng chục ngàn người được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước các hạng.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, các lĩnh vực văn hóa- xã hội, công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị cũng luôn luôn được coi trọng, làm tốt. Từ  năm 1965 đến năm 1974, Đảng bộ Đô Lương đã tiến hành 7 kỳ đại hội vào các năm 1965, 1967, 1969, 1971, 1972, 1974. Tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp luôn luôn được kiện toàn, củng cố, vai trò ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng.

          2- Đảng bộ và nhân dân Đô Lương thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong 10 năm sau ngày đất nước thống nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, cũng như cả nước, Đô Lương gặp rất nhiều khó khăn: cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu; quan hệ sản xuất, trình độ canh tác còn bất cập; hệ thống thủy lợi, giao thông thấp kém; đất đai nhiều nơi hoang hóa, chưa được sử dụng hợp lý, đời sống nhân dân còn thấp. Để khắc phục tình trạng trên, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội huyện nhà phát triển đi lên, Đảng bộ Đô Lương đã đề ra nhiều chủ trương đúng đắn và lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi, đem lại nhiều kết quả to lớn.

 Trước hết là việc chuyển dân lên đồi và di dân đến vùng kinh tế mới ở ngoại huyện để mở rộng diện tích canh tác. Phát động phong trào ra quân làm thủy lợi sôi nổi rộng khắp như: tập trung hoàn chỉnh hệ thống thủy nông Văn Tràng, tham gia các công trình thủy lợi Vách Bắc, hồ Kẻ Gỗ, cải tạo sông Đào và cống Hiệp Hòa. Tổ chức khai hoang phục hóa, phân bố lại lao động trong nông nghiệp, ứng dụng KHKT vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại. Các xí nghiệp gạch ngói, lò nung vôi, khai thác đá, chế biến thực phẩm…được mở mang. Các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn đã tích cực đẩy mạnh sản xuất, tăng ngày giờ công, tăng xe, tăng chuyến, bám máy, bám lò, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức sản xuất và quản lý khoa học, góp phần tăng năng suất lao động.

Trong nông nghiệp, từ đầu năm 1981, thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW về “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, huyện Đô Lương đã tổ chức triển khai tích cực, hợp lý nên đã đưa lại hiệu quả thực sự, làm cho sản lượng nông nghiệp không ngừng được nâng lên. Kinh tế Đô Lương trong 10 năm (1976-1985) mặc dù gặp rất nhiều khó khó khăn song đã có những bước tiến đáng kể. Nếu như năm 1976, tổng sản lượng lương thực đạt 39.000 tấn thì năm 1985 đạt 54.000 tấn, đàn trâu bò từ 19.272 con lên 23.000 con đàn lợn từ 39.222 con lên 43.000con.

Lĩnh vực văn hóa – xã hội chuyển biến tích cực. Năm 1976, toàn huyện có trên 43.500 người đi học, đến năm 1985 có gần 50.000 trẻ đến trường. Từ năm 1980, thực hiện chủ trương cải cách giáo dục của Đảng và Nhà nước, công tác giáo dục ở Đô Lương có nhiều khởi sắc. Hệ thống trường lớp được sắp xếp hợp lý. Cơ sở vật chất được tu sửa nâng cấp, đáp ứng yêu cầu dạy và học. Các trường học đẩy mạnh  phong trào thi đua hai tốt, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nhờ vậy chất lượng không ngừng chuyển biến đi lên. Ngành y tế có nhiều tiến bộ. Cơ sở vật chất của bệnh viện huyện, trạm y tế của các xã được tu sửa, xây dựng bổ sung đầy đủ, khang trang hơn. Hội Y học cổ truyền được thành lập và phát triển tốt, phong trào trồng dược liệu, sử dụng thuốc nam được đẩy mạnh. Phong trào “5 dứt điểm” được phát động và thực hiện tốt. Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT được coi trọng, diễn ra sôi nổi, thường xuyên. Các đội văn nghệ không chuyên, các đội bóng đá, bóng chuyền được thành lập từ huyện đến cơ sở, tổ chức biểu diễn thi đấu phục vụ nhân dân, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, rèn luyện sức khỏe nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975, dân tộc ta lại phải đương đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược mới ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ, một lần nữa nhân dân Đô Lương tích cực đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Chỉ trong thời gian ngắn đầu năm 1979, huyện đã giao hơn 3.200 quân cho các đơn vị bộ đội; huy động nhân dân đóng góp hàng trăm tấn gạo, hàng trăm chăn chiếu, cơ số thuốc men và hàng trăm ngàn đồng phục vụ con em lên đường nhập ngũ. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, Đô Lương đã có 417 liệt sỹ hy sinh ở các chiến trường, 905 thương binh, 215 bệnh binh các loại, hai cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, đó là đồng chí Lê Hữu Hòe (Lam Sơn) và đồng chí Nguyễn Quốc Thất (Đà Sơn).

 Tính ra, trong tất cả các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, huyện Đô Lương có trên 40.000 người đi bộ đội; 13.800 người đi dân công; gần 1.500 người đi thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu. Trong đó có 4.036 người đã hy sinh, được công nhận là Liệt sỹ; 3.448 người là Thương binh; 1.414 người là Bệnh binh; 1.200 người bị nhiễm chất độc da cam đioxin. Với những thành tích, đóng góp trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Nhân dân và LLVT huyện Đô Lương và 18 xã, thị trấn đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân”; 8 cá nhân được phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân”; 263 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam Anh hùng”.

Công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể chính trị luôn được coi trọng. Từ năm 1976 đến năm 1985, Đảng bộ Đô Lương đã tổ chức 4 kỳ đại hội vào các năm 1976, 1977, 1979, 1982. Qua mỗi kỳ đại hội, Đảng bộ ngày càng lớn mạnh về mọi mặt. Từ 16 đảng bộ, chi bộ vững mạnh năm 1976 tăng lên 22 đảng bộ, chi bộ vững mạnh năm 1980 và 34 đảng bộ, chi bộ vững mạnh năm 1985. Đảng bộ huyện và các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị đã phát huy vai trò lãnh đạo, tập hợp vận động nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát triển.

 Trong 10 năm (từ 1976 đến 1985), cùng với tình hình chung của cả nước, Đô Lương còn gặp nhiều khó khăn, thử thách. Từ điểm xuất phát thấp lại chịu ảnh hưởng của địch họa, thiên tai triền miên nên nền kinh tế phát triển chậm, chưa toàn diện và vững chắc, đời sống nhân dân còn thấp. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Đô Lương đã từng bước tháo gỡ khó khăn vướng mắc, ổn định cuộc sống, góp phần thực hiện công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Những thành tựu, hạn chế trong 10 năm (1976 -1985) là những bài học, kinh nghiệm quý báu làm hành trang để Đảng bộ và nhân dân Đô Lương vững bước đi lên trong thời kỳ mới.

 3- Đảng bộ và nhân dân Đô Lương thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, giành nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực.

Từ ngày 15 đến 18/12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước sang một thời kỳ mới. Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng và các mục tiêu, giải pháp mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII đề ra, Đô Lương đã bước vào thực hiện công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết là việc khởi động chương trình “5Đ” (Đồng-Đồi-Đường-Điện-Đôla). Tập trung phát triển nông nghiệp bằng việc đầu tư giống mới, chú trọng công tác xây dựng, nâng cấp hệ thống hồ đập, kênh mương đảm bảo nguồn nước, tăng mùa vụ, áp dụng nhanh và hiệu quả các tiến bộ KHKT, có chính sách khuyến khích cởi mở, hợp lý. Bên cạnh đó huyện mở rộng ngành nghề, khơi thông liên doanh liên kết, xuất khẩu hàng hóa, tập trung phủ xanh đất trống đồi núi trọc; mở rộng, nâng cấp đường giao thông, xây dựng trạm điện phục vụ sản xuất và đời sống…

 Bước đầu đổi mới, trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, Đô Lương lại có những khó khăn riêng do hậu quả nặng nề của thiên tai như bão, lụt, hạn hán, sâu bệnh phá hoại mùa màng. Song Đảng bộ và nhân dân đã phát huy truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vươn lên, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, tạo ra sự chuyển biến toàn diện trên các lĩnh vực. Tiếp đến, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo nhân dân tích cực thực hiện Nghị quyết 10 ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, tiến hành khoán ruộng đất hợp lý. Từ đó, phong trào thâm canh trong nông nghiệp chuyển mạnh và đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả rõ rệt, đưa sản lượng lương thực không ngừng được nâng lên. Thời kỳ này BCH Đảng bộ huyện cũng chủ trương hoá giá đàn trâu bò cho hộ xã viên, góp phần làm cho đàn trâu bò phát trỉển mạnh. CN-TTCN tuy còn gặp nhiều khó khăn về cơ chế, giá cả, thị trường nhưng Đô Lương đã thực hiện tốt liên doanh, liên kết trong sản xuất, tìm nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ nên một số dây chuyển sản xuất như tơ tằm, gốm sứ, đồ mộc xuất khẩu, dệt thảm, thêu ren được thiết lập và phát huy hiệu quả, tạo ra nguồn hàng đáng kể trong phân phối lưu thông, góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế huyện nhà.

Thời gian từ năm 1991-2000, Đô Lương cùng cả nước thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, lần thứ VIII đề ra. Đảng bộ huyện đã đề ra 4 mục tiêu có tính tổng quát là “Giữ vững ổn định chính trị, giảm đói nghèo, nâng cao dân trí, khuyến khích làm giàu chính đáng”. Trong nông nghiệp, Huyện chủ trương chuyển thể hình thức quản lý HTX sang chính quyền điều hành, mặt khác tiến hành phân vùng sản xuất để bố trí lại cơ cấu đầu tư, phát huy thế mạnh từng vùng. Toàn huyện được quy hoạch thành 4 vùng vừa thâm canh, chuyên canh, phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng rừng nguyên liệu, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng TTCN, dịch vụ. Hàng tiêu dùng cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường, xuất khẩu hàng hóa ngày càng nâng cao. Lĩnh vực văn hóa-xã hội được quan tâm và phát triển tích cực, công tác Dân số – kế hoạch hóa gia đình được Đảng bộ hết sức coi trọng. Năm 1991, BCH Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết 03-NQ/HU, đánh dấu bước đột phá mạnh mẽ trong công tác Dân số-KHHGĐ. Việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 3 khóa VII được thực hiện tích cực.Vai trò và sức chiến đấu của Đảng bộ ngày càng được nâng cao.

Từ năm 1996 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XVI, Đô Lương bước vào thực hiện chương trình “5 hóa”: CNH nông nghiệp, nông thôn; Xanh hóa đất trồng, đồi núi trọc; Nhựa, bê tông hóa giao thông thủy lợi; Xã hội hóa giáo dục và KHH dân số; Phổ cập hóa các phương tiện thông tin nghe nhìn. Bước đầu thực hiện, Đô Lương đã tạo được một bước đột phá quan trọng về tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn từng bước được củng cố. Các HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX tín dụng nông thôn cùng với các loại hình kinh tế hợp tác phát triển đa dạng tạo thành những động lực mới trong sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong đầu tư XDCB, Huyện chủ trương vận dụng sự đóng góp của nhân dân với phương châm “Dân làm Nhà nước hỗ trợ”, các tuyến kênh mương chính được cứng hóa; hàng trăm km đường huyện, đường liên xã được rải nhựa, bê tông hóa; đầu tư phương tiện, nhân lực cho sự ra đời của Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện; kết hợp xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội, hình thành các khu trung tâm và thị tứ xã, tạo tiền đề đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và tăng sức hút của thị trường, từng bước thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.

Thời kỳ này, công tác xây dựng đảng được đặt ra hết sức quan trọng. Tập trung việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt từ huyện đến xã. Toàn Đảng bộ thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2) đảm bảo giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc trong đổi mới, kiên định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó công tác tư tưởng luôn được đặt lên vị trí  hàng đầu. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI, bức tranh kinh tế – xã hội của huyện nhà đã có nhiều khởi sắc và khá toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên. Năm 2000, Đại hội Đảng bộ huyện khóa XVII (nhiệm kỳ 2000 – 2005) đã đề ra phương hướng:“Nắm vững thời cơ, vượt qua thử thách, phát huy sức mạnh toàn Đảng, toàn dân tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả chương trình “5 hóa ” lên tầm cao mới, kết hợp sức mạnh nội lực với việc sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững…”

Trong nông nghiệp, thực hiện cuộc vận động nông dân khoanh vùng đổi ruộng theo Chỉ thị 02 ngày 5/4/2001 của Tỉnh ủy Nghệ An, đẩy nhanh tốc độ áp dụng tiến bộ KHKT, nhất là việc đưa giống mới và kỹ thuật tiên tiến vào một số khâu như gieo cấy, thu hoạch, chế biến…Trong chăn nuôi đã chuyển dần từ hình thức thủ công sang bán công nghiệp, hình thành các trang trại gắn với nuôi trồng thủy sản, giảm dần đàn trâu, tăng đàn bò, nạc hoá đàn lợn. Chuyển hướng trồng cây lâm nghiệp sang trồng cây nguyên liệu, cây ăn quả gắn với việc bảo vệ và phát triển vốn rừng. Công nghiệp – TTCN đã có sự tập trung quy hoạch. Hình thành các khu TTCN ở Thị trấn và Thượng Sơn, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty TNHH; tiến hành xây dựng làng nghề, làng có nghề, mở rộng đa dạng các loại ngành nghề, tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người lao động. Cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật được nâng cấp, xây dựng; nhiều công trình văn hóa, phúc lợi xã hội được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa nhất là trường học, bệnh viện, trạm y tế và công sở làm việc của các địa phương.

Năm 2005, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2005 – 2010) đã xác định phương hướng, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới “Đổi mới đoàn kết, tiến công, tăng tốc và phát triển, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế làm trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần, đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn xã hội, phấn đấu xây dựng Đô Lương sớm hội tụ đủ các tiêu chí để Thị trấn thành thị xã”.

 Sau Đại hội, BCH Đảng bộ huyện đã chỉ đạo, khảo sát ban hành 4 chuyên đề, 12 đề án về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Trong đó đề cập đến công tác tư tưởng, tổ chức cán bộ và công tác kiểm tra để giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đổi mới nâng cao sinh hoạt chi đoàn, chi hội; phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng phát triển làng nghề, chỉnh trang đô thị, quy hoạch mở rộng Thị trấn; tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử gắn với du lịch; hình thành khu đô thị Nam Thị trấn, cụm TTCN ở Thị trấn, Lạc Sơn; quy hoạch cụm công nghiệp Thượng Sơn; thu hút đầu tư xây dựng Nhà máy xi măng Đô Lương…Qua hơn 5 năm thực hiện các chương trình, đề án nói trên huyện Đô Lương đã có bước phát triển tích cực và mạnh mẽ. Bộ mặt nông thôn, đô thị ngày càng được đổi mới. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao.

Tháng 8/2010, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010 – 2015) đã đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ mới “… Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới CNH, HĐH gắn với đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa và đảm bảo an sinh xã hội; giữ vững QPAN, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh dựa trên cơ sở phát huy tiềm năng lợi thế hiện có và những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, tập trung phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Xây dựng Đô Lương thành huyện giàu về kinh tế, văn hóa-xã hội phát triển, an sinh xã hội đảm bảo, phấn đấu đến năm 2015 xây dựng Thị trấn Đô Lương đủ điều kiện để thành lập thị xã”.

 Trong nhiệm kỳ 2010 – 2015, tuy gặp nhiều khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quản lý điều hành của chính quyền từ huyện đến cơ sở, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nên huyện nhà đã giành được những thắng lợi khá toàn diện trên các lĩnh vực. Có 23/30 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra.

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 – 2015 đạt 9,6%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 30,25 triệu đồng tăng 2 lần so với năm 2010. Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện. Đến năm 2014, toàn huyện đã cơ bản hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa theo Chỉ thị 08-CT/TU. Xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả, đến năm 2015 có 7 xã đạt 19 tiêu chí NTM. Công nghiệp, xây dựng tiếp tục phát triển và có mức tăng trưởng khá cao. Dự án khu đô thị Vườn Xanh thành công, góp phần mở rộng không gian đô thị. Nhà máy May mặc Pretx-Vinh, Nhà máy Xi măng Sông Lam đi vào hoạt động cùng với việc thu hút đầu tư và triển khai một số dự án quan trọng, góp phần tạo diện mạo mới cho sự phát triển của huyện nhà. Bên cạnh đó, dịch vụ – thương mại được mở rộng, phát triển đa dạng tạo ra sự cân đối trong cơ cấu nền kinh tế, tăng nhanh nguồn thu và nâng cao đời sống nhân dân.

Các lĩnh vực văn hóa – xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, an sinh xã hội được đảm bảo. Trong nhiệm kỳ có thêm 25 trường đạt chuẩn Quốc gia tính cả mức độ 1 và 2. Đến năm 2015 có 30/33 xã, thị đạt bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011 – 2020. Lĩnh vực Văn hóa, Thông tin, Thể thao, Phát thanh – Truyền hình từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Quốc phòng được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo:

 Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có nhiều tiến bộ. Việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã được tổ chức có hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên.

Ngày 3, 4 tháng 8 năm 2015, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX (nhiệm kỳ 2015 – 2020) đã đề ra phương hướng chung: ”Nâng cao năng lực lãnh đạo và  sức chiến đấu của Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận của nhân dân, khai thác các tiềm năng, lợi thế so sánh; phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới; đảm bảo mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng an ninh, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, đưa Đô Lương trở thành một trong những huyện khá tốp đầu của tỉnh”.

 Hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XX và đại hội Đảng các cấp; thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XII) về “Tăng cường  xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện ”tự diễn biến”, ”tự chuyển hóa” trong nội bộ”, mặc dù bị tác động bởi những khó khăn của tình hình kinh tế thế giới, trong nước, nhưng Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã nỗ lực phấn đấu giành nhiều thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế tiếp tục phát triển, ổn định; văn hoá xã hội có nhiều khởi sắc, ANQP được giữ vững; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

 Trên 30 năm thực hiện công cuộc đổi  mới của Đảng, trong đó có 5 năm thực hiện chương trình “5Đ” và hơn 10 năm thực hiện chương trình “5 hóa” của BCH Đảng bộ huyện, Đô Lương đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Kinh tế phát triển tích cực, năm 1985 tổng sản lượng lương thực toàn huyện đạt 54.000 tấn, đến năm 1995 đạt 69.000 tấn, năm 2012 đạt 94.000 tấn và năm 2017 đạt 101.229,4 tấn. Hệ thống kết cấu hạ tầng từ huyện đến cơ sở phát triển mạnh mẽ. Đến nay, nhìn chung cơ sở vật chất, trụ sở làm việc của các cơ quan, đoàn thể, trường học từ huyện đến xã được xây dựng khang trang, hiện đại, hầu hết được cao tầng hóa; hệ thống đường giao thông, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ CN, TTCN, nông nghiệp, văn hóa, TDTT được củng cố, nâng cấp ngày càng kiên cố, góp phần tích cực để phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ đời sống nhân dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1995 là 10%, năm 2006 là 18%, 2007 là 18,7%. Năm 2012 mặc dù nằm trong tình hình khó khăn chung, Đô Lương vẫn đạt  tốc độ tăng trưởng 10,42% và năm 2017 tăng trưởng 11,67%. Tổng giá trị sản xuất năm 1995 là 350 tỷ đồng, năm 2006 là 1.522 tỷ đồng, năm 2007 là 1.995 tỷ đồng, năm 2012 là 5.079 tỷ đồng và năm 2017 là 14.197,37 tỷ đồng. Bình quân thu nhập đầu người năm 1995 là 1,8 triệu đồng, năm 2006, 2007 đạt trên dưới 8 triệu đồng, năm 2012 đạt 25,84 triệu đồng và năm 2017 là 72,03 triệu đồng

Văn hóa xã hội chuyển biến tích cực. Ngành Giáo dục – Đào tạo liên tục phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng. Là một trong những đơn vị luôn dẫn đầu về thành tích học sinh giỏi và thi vào đại học, cao đẳng, nhiều năm liên tục được công nhận đơn vị Tiên tiến xuất sắc của tỉnh. Nhiều học sinh đạt HCV, HCB, HCĐ trong các kỳ thi quốc tế và khu vực, đạt thủ khoa trong các kỳ thi ĐH, CĐ hàng năm. Phong trào XHHGD, phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia được thực hiện tích cực và đạt kết quả cao. Năm 2012, Đô Lương có 57 trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, trong đó: Mầm non 13 trường, Tiểu học 35 trường (MĐ2: 9 trường), THCS 8 trường. THPT 1 trường. Đến nay, toàn huyện có 67/96 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 69,8%, trong đó: Mầm non có 21/33 trường, trong đó có 3 trường đạt chuẩn Mức độ 2; Tiểu học có 35/35 trường, trong đó có 16 trường đạt chuẩn Mức độ 2; THCS có 10/22 trường, THPT có 1/5 trường. Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng được nâng lên

Ngành Y tế có nhiều tiến bộ, làm tốt việc chăm sóc sức khỏe nhân dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế từ huyện đến cơ sở ngày càng được tăng cường. Phong trào xây dựng xã chuẩn quốc gia về y tế được hưởng ứng tích cực. Năm 2012, Đô Lương có 19/33 xã thị đạt chuẩn quốc gia về y tế theo bộ tiêu chí mới, đến năm 2017 có 31/33 xã thị đạt chuẩn quốc gia theo bộ tiêu chí mới.

Hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT thường xuyên được đẩy mạnh. Hàng năm các hoạt động diễn ra sôi nổi, thiết thực, thu hút đông đảo nhân dân tham gia như Liên hoan Tiếng hát Làng Sen, các giải bóng đá, bóng chuyền, cầu lông… từ huyện đến cơ sở. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được tổ chức thực hiện tích cực và có hiệu quả, tạo nên bộ mặt huyện nhà ngày càng khang trang, hiện đại; góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tham gia các giải văn nghệ, TDTT ở tỉnh đạt nhiều thành tích xuất sắc. Đến nay, toàn huyện có 12 xã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới. Đồng thời, tập trung chỉ đạo xây dựng Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị theo lộ trình.

Công tác an ninh quốc phòng được giữ vững. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được đảm bảo. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn luôn được coi trọng làm tốt. Từ năm 1986 đến 2015, Đảng bộ đã tiến hành 8 kỳ đại hội vào các năm 1986, 1989, 1991, 1996, 2000, 2005, 2010 và năm 2015. Trong quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện phát triển kinh tế xã hội, Đảng bộ đã đưa ra nhiều chủ trương có tính đột phá, sáng tạo, đi đầu góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà. Số lượng, chất lượng đảng viên, tổ chức cơ sở đảng ngày càng được nâng lên. Năm 1985 toàn huyện có 8.200 đảng viên, đến cuối năm 2017 có 10.536 đảng viên. Năm 1985, toàn huyện có 75 tổ chức cơ sở đảng, trong đó  có 34 đảng bộ, chi bộ vững mạnh; năm 2017 toàn huyện có 73 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 36 đảng bộ, chi bộ được công nhận Trong sạch vững mạnh. Đến nay, toàn Đảng bộ có 16.205 người và lượt người được tặng Huy hiệu Đảng. Trong đó có 46 người được tặng Huy hiệu 70 năm; 244 người được tặng Huy hiệu 65 năm, 533 người được tặng Huy hiệu 60 năm, 512 người được tặng Huy hiệu 55 năm, 3.014 người được tặng Huy hiệu 50 năm, 1.369 người được tặng Huy hiệu 45 năm, 5.626 người được tặng Huy hiệu 40 năm, 4.861 người được tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng. Việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XII) về “Tăng cường  xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện ”tự diễn biến”, ”tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã từng bước đi vào chiều sâu và có kết quả tích cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên.

Nhìn lại chặng đường 55 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mặc dù phải trải qua muôn vàn gian nan thử thách: Địch họa, thiên tai, tình hình thế giới biến động phức tạp, bối cảnh đất nước, địa phương còn gặp  nhiều khó khăn, song với truyền thống anh hùng bất khuất, cần cù, sáng tạo, với những nỗ lực cố gắng phi thường, Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã lập nên nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng, tạo bước chuyển mình toàn diện và vững chắc về kinh tế, VH-XH, QP-AN, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

  1. NHỮNG BÀI HỌC, KINH NGHIỆM TRONG CHẶNG ĐƯỜNG 55 NĂM QUA.

Từ thực tiễn hoạt động của Đảng bộ và nhân dân trong 55 năm qua, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm chủ yếu sau đây:

Một là: Luôn luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc về xây dựng đảng, vận dụng linh hoạt sáng tạo trong tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo đã chứng minh nếu không giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, không nắm vững nguyên tắc và kiên định mục tiêu, thiếu sáng tạo thì không thể vượt qua những khó khăn thử thách to lớn. Đối với một huyện ít tiềm năng, lợi thế, điểm xuất phát thấp, địch họa, thiên tai liên tục hoành hành, để lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ phải luôn được khẳng định là nhân tố hàng đầu quyết định của mọi thắng lợi.

Hai là: Trong lãnh đạo, chỉ đạo, cấp uỷ Đảng các cấp phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, biết lựa chọn những vấn đề trọng tâm cấp bách, tìm khâu đột phá mới, dựa vào sức mạnh và sự sáng tạo của nhân dân và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ đảng viên.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bài học lớn, là sự thể hiện năng lực của một đảng cầm quyền. Cán bộ, đảng viên phải tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ xây dựng quê hương, đất nước. Thực tiễn đã chứng minh là nơi nào các cấp uỷ, chính quyền biết dựa vào dân, phát huy sáng kiến trong nhân dân, tiếp thu, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân, giải quyết thấu tình đạt lý những vấn đề nảy sinh thì nơi đó phong trào cách mạng quần chúng mạnh lên. Ngược lại, nơi nào cán bộ quan liêu mệnh lệnh, gò ép nhân dân thì phong trào sa sút, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền. Cho nên mọi việc đều phải xuất phát từ phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu nghe dân nói, nói để dân hiểu, làm để dân tin.

Ba là: Quán triệt phương châm dựa vào sức mình là chính, phát huy ý chí tự lực tự cường và lợi thế so sánh của huyện. Tranh thủ thời cơ, tiếp cận và tận dụng tối đa những yếu tố nguồn lực từ bên ngoài, năng động sáng tạo trong trong tư duy và hành động.

Phải nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, không cam chịu đói nghèo và chậm phát triển, phải biến ý chí quyết tâm thành năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện để nâng cao rõ rệt đời sống nhân dân. Đây là một trong những bài học lớn của Đảng bộ và nhân dân Đô Lương, một huyện đất chật người đông, điểm xuất phát đi lên thấp, muốn thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển không có cách nào khác là phải dựa vào sức mình là chính, phải tự lục cánh sinh để vượt qua mọi khó khăn thử thách. Thực tế sau hơn 30 năm đổi mới, nhờ vận dụng đúng tinh thần và bài học trên đây nên nền kinh tế của huyện nhà tiếp tục tăng trưởng khá. Từ một huyện mới thành lập, sau 55 năm xây dựng trưởng thành đã trở thành một huyện có vị thế cao trong phong trào chung của cả tỉnh. Từ một huyện độc canh, thuần nông trở thành huyện có cơ cấu công, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ hợp lý. Tình hình chính trị – xã hội ổn định, niềm tin của Đảng đối với nhân dân được tăng cường.

Bốn là: Phát huy sức mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy cần phải quán triệt tư tưởng quan điểm dân vận của Đảng và Bác Hồ kính yêu “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Phải tích cực đổi mới phương thức vận động quần chúng, phải thực sự đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có trách nhiệm thu thập phản ánh tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Tổ chức tốt phong trào hành động thiết thực. Thu hút đông đảo quần chúng tham gia trong đội hình trong các lực lượng cách mạng, xây dựng mối đoàn kết thống nhất vì lợi ích chung của cộng đồng.

Năm là: Luôn khẳng định, cán bộ là khâu then chốt, có vai trò to lớn trong việc tổ chức lãnh đạo nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Luôn luôn coi trọng và làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cán bộ nào phong trào ấy, công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, các cấp Uỷ đảng, cơ quan ban ngành, đoàn thể phải luôn luôn coi trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ có tác phong công tác sâu sát, dân chủ, đoàn kết “miệng nói, tay làm, tai lắng nghe, mắt quan sát và có đầu óc tổng kết thực tiễn”, có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, cầu tiến bộ. Xây dựng một đội ngũ đông đảo đảng viên luôn tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm, tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân. Một đội ngũ cán bộ, đảng viên như vậy sẽ luôn luôn được nhân dân yêu mến, tin tưởng.

Với truyền thống và kinh nghiệm đã được đúc kết từ xưa đến nay, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã, đang và sẽ tiếp tục nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng Đô Lương thành huyện phát triển toàn diện, góp phần vào thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy