kỷ niệm 71 năm khởi nghĩa Đô lương

Trong không khí vui tươi, phấn khởi của những ngày đầu năm 2012. Cả nước sôi nổi tổ chức nhiều hoạt động, hướng tới kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Quang Vinh và mừng Xuân Nhâm Thìn.      

Sáng ngày 12/1/2012  tại Tượng đài Cách mạng Đô Lương, Cấp uỷ, Chính quyền, MTTQ, các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, trường học và lực lượng vũ trang huyện Đô Lương long trọng tổ chức lễ dâng hương, dâng hoa kỷ niệm 71 năm ngày khởi nghĩa Đô Lương (13/01/1941- 13/01/2012). Đây là dịp ôn lại những sự kiện đáng nhớ trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quê hương Đô Lương 71 năm. Là dịp để chúng ta trân trọng tưởng nhớ và biết ơn sự hy sinh anh dũng của những con người yêu nước sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Các đồng chí lãnh đạo huyện cùng đông đảo bà con nhân dâng hương, dâng hoa kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Đô Lương

Sự kiện ngày 13/1/1941 đã được ghi danh vào sử sách và lưu truyền trong nhân dân với các tên gọi khác nhau như: Binh Biến Rạng – Lường, Binh Biến Đô Lương, Khởi nghĩa Đô Lương, Khởi nghĩa Đội Cung. Dù cách gọi khác nhau nhưng sự kiện ngày 13/1/1941 mãi mãi là biểu hiện của tinh thần yêu nước cao độ của người Việt Nam, gắn liền với tên tuổi ông Đội Cung và địa danh Đô Lương anh hùng.

Ông Đội Cung tên thật là Trần Công Cung. Bố ông là Trần Công Dậu, quê ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Mẹ ông họ Nguyễn quê ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Khi sinh ra ông được người cậu ruột nhận làm con nuôi, đưa về quê ngoại ở tỉnh Thanh Hoá. Lớn lên ông nhận theo họ ngoại với tên gọi là Nguyễn Văn Cung. Ông còn có tên gọi là Nguyễn Tri Cung và Nguyễn Chí Cung.   

Khi trưởng thành, ông tham gia lực lượng lính khố xanh tại Nghệ An và được thăng dần lên chức Đội. Khi thực dân Pháp có ý định điều một số lính khố xanh ở Nghệ An sang chiến đấu tại Lào, một số binh sỹ tại  đây đã rất hoang mang và bất mãn. Ngày 8/1/1941, Đội Cung được điều động từ Vinh về Chợ Rạng (Thanh Chương) thay cho viên đồn trưởng người Pháp Alôngzô. Với tinh thần yêu nước sẵn có và không muốn làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp ở Lào. Đêm 13/1/1941, được hai ông cai là Hoàng á và Lê Văn Vỹ ủng hộ, Đội Cung cùng 11 lính đồn Chợ Rạng quyết định tiến về chiếm đồn Đô Lương, giết Viên đồn trưởng rồi cùng 25 lính ở đây tiến về Vinh ngay trong đêm với mục đích chiếm trại giám binh thành Nghệ An sau đó phát triển ra những nơi khác.

6h30 tối ngày 13/01/1941 cuộc hành quân bắt đầu từ đồn chợ Rạng tiến về Đô Lương. Trên đường đi ông mệnh lệnh cho Cai á vào giết vợ chồng tên Đồn trưởng ở Rạng – một trong những tên ác ôn gây nhiều tội ác và đau khổ cho nhân dân. Quân khởi nghĩa hành quân với khí thế sôi sục căm thù. Đến 9h tối thì đến đồn Đô Lương (đồn Đô Lương khi ấy đóng ở khu vực khối 3 Thị trấn bây giờ). Thấy phố xá còn nhiều người qua lại ông cho Cai á và Cai Vỹ đi quan sát tình hình. Còn quân lính thì tập trung vào sân Chùa Vườn để nghe ông huấn thị (Chùa Vườn khi đó nằm ở khu vực nhà làm việc của Huyện uỷ bây giờ). Ông nói: “Bọn thực dân Pháp đã gây tai hoạ cho nhân dân ta, gây nên cảnh nước mất nhà tan, chúng còn bắt chúng ta làm bia đỡ đạn cho chúng. Tối nay nhận được lệnh phải chiếm đồn Đô lương và Thành Vinh. Các ngài là người Việt Nam, nếu máu Việt Nam còn đang chảy trong da thịt các ngài, thì các ngài phải lo việc phục Quốc. Đó là mệnh lệnh của Tổ quốc. Toàn thể binh lính giơ tay xin thề quyết chiến”.

Đúng 11h đêm, nghĩa quân tiến vào Đồn Đô Lương, giết chết vợ chồng tên đồn trưởng Bách, sau đó đến chùa Thanh vào nhà chủ xe Nguyễn Văn Lợi lấy 2 chiếc xe ô tô khách và chiếc xe con  của  Đồn kéo quân về Vinh (Chùa Thanh khi đó nằm ở trường Cấp 2 thị trấn cũ, khối 2 Thị trấn bây giờ).

Đến Vinh, ông cho Cai Vỹ tập trung quân cách cửa Hữu thành Vinh 200m để chờ lệnh, còn ông và Cai á đi vào thành. Tên lính gác cổng buông súng chào và mở rộng cửa cho xe của ông Đồn Đô Lương về Thành. ý định của ông là vào Thành giết tên giám binh người Pháp và xong sẽ tập hợp 300 lính khố xanh để chiếm gọn Thành trong một đêm.

Thật không may tên lính gác cổng bỗng nhiên giật mình bắn 3 phát súng chỉ thiên nên tên giám binh thức giấc. Sự việc bị bại lộ, Cai á tự sát trong Thành, còn Đội Cung vượt ra khỏi Thành Vinh tránh vào Chùa Diệc nghỉ tạm chờ cơ hội. Một tháng sau do tên mật thám Tống Gia Liêm mật báo, Đội Cung bị bắt.

Cuối tháng 2/1941. Toà án binh Hà Nội đã xử án 51 bị can trong vụ Khởi nghĩa Rạng-Đô Lương. Đội Cung, cai Vỹ cùng 9 người lính khác bị kết án tử hình. 12 người bị án chung thân. 2 người bị án 20 năm khổ sai. Sáng ngày 25/4/1941, thực dân Pháp tiến hành cuộc hành quyết Đội Cung và 10 người khác ở Vinh. Mộ của ông hiện nay ở phía ngoài cửa Hữu Thành Nghệ An cũ thuộc phường đội Cung thành phố Vinh

Cuộc khởi nghĩa Đô Lương tuy chưa giành được thắng lợi nhưng sự kiện này đã gây một tiếng vang rất lớn, báo hiệu và cổ vũ tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân ta chống ách đô hộ của thực dân, phong kiến.

Đánh giá về sự kiện này: Báo “Cởi ách” của Tỉnh uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương Nghệ An ra ngày 20/2/1941 viết: “Cuộc binh biến Chợ Rạng-Đô Lương thất bại nhưng nó có tác dụng kích thích tinh thần ái Quốc của đồng bào ta,  làm cho đế quốc Pháp bối rối, làm cho ai nấy đều hiểu rằng anh em binh lính cùng đi với dân chúng trong mặt trận phản đế. Đồng thời nó cũng dạy cho chúng ta một bài học: muốn đánh đuổi  đế quốc ra khỏi xứ cần phải có sự thống nhất trong hàng ngũ các giai cấp”.

Đặc biệt, trong Thư gửi đồng bào ngày 6/6/1941, Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã khẳng định: “Các cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Đô Lương, Bắc Sơn đã tỏ rõ đồng bào ta quyết bước theo vết máu vẻ vang của tiền nhân. Hăng hái diệt thù”.

Tiếp bước và phát huy sức mạnh truyền thống đấu tranh cách mạng của các thế  hệ cha ông. Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực, đoàn kết trong chiến đấu cũng như trong xây dựng, giành được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực. Huyện Đô Lương và 18 xã, thị trấn được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, 1 xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới; 59 bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Hơn 4000 người con Đô Lương đã anh dũng hy sinh cho Tổ quốc. Hơn 3000 người để lại một phần thân thể của mình nơi chiến trường. Tinh thần dũng cảm chống giặc ngoại xâm, giặc dốt, giặc đói nghèo, vượt qua khó khăn xây dựng quê hương của Đảng bộ và nhân dân Đô Lương luôn được phát huy; Trước mắt, Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2011-2015 với mục tiêu xây dựng Đô Lương trở thành một trong những huyện vững mạnh toàn diện; sớm hội tụ đủ điều kiện để xõy dựng thị trấn trở thành Thị xã. Bài học của cuộc Khởi nghĩa Đô Lương ngày 13/1/1941 là lòng yêu nước, lòng dũng cảm nhưng phải có sự thống nhất, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của một chính đảng chân chính là Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được thắng lợi, đã, đang và sẽ là bài học quan trọng cho chúng ta trong hiện tại và tương lai.

Hữu Hoàn